ĐỒI LASAN - Nha-trang
LASAN HỘI NGỘ VIII, 8-8-2026
điểm hẹn của những tâm hồn LASAN

* Bài viết về nguồn gốc Đồi La San Nha Trang do chính Frère Simon Hoà [1887 - 1961]
(viết (tiếng Pháp) và Frère Joseph Lê Thành Tốt [1937 - 2023] dịch vào tháng Giêng 1958.

* Frère Simon Hoà là người đă t́m ra Đồi La San và đồng thời là Trưởng Công Tŕnh xây cất các ṭa nhà ở đó.

* Sử liệu từ Fr. Simon Hoàng Thái - CĐ San Jose (11/5/2026).

HỒI KƯ CỦA MỘT TRƯỞNG CÔNG TR̀NH XÂY CẤT

 

Lẽ ra khối nhà huấn luyện không được đặt tại Nha Trang, v́ những người phụ trách đă đi t́m ở gần Huế một đỉnh nhỏ nằm gọn giữa các cây thông được bao bọc bởi những ngọn đồi xanh um, và nếu được, phải cao hơn mực nước Sông Hương khoảng một chục mét. Đă lâu, họ nghĩ đă t́m được địa điểm mơ ước đó ở phía gần tháp nước giữa đám thông reo và thơm ngát.

Khoảng tháng 2 năm 1930, Sh. DOMICÉ-ROGATIEN đi Nha Trang để t́m đất nhưng không kết quả. Ông trở về chỉ với niềm tin chắc rằng phải đặt nhà huấn luyện tại đó.

Cũng vào thời ấy, Sh. HÉRIGER-MARIUS t́m được 3 mẫu ruộng gần nhà thờ Pháp ở Huế (nhà thờ Thánh Phanxicô Xaviê), với ư định chuyển Trường Pellerin đến đó, c̣n bán đảo nơi trường đang tọa lạc sẽ được dành trọn cho nhà huấn luyện. Nhưng dự án bị gạt bỏ v́ thiếu tài chính.

Tháng 9 năm đó, Sh. Giám Tỉnh DIVY-JOSEPH phái tôi đi Nha Trang với nhiệm vụ t́m cho ra một miếng đất. Tôi bỏ ra 2 ngày để thăm ḍ địa thế giữa Nha Trang và B́nh Cang. Vẫn không thấy có địa điểm nào thích hợp. Trước khi trở về Huế, tôi muốn ra sức thử một lần chót. Tôi leo lên thềm cao của Tháp Chàm Ponagar. Từ đó, về phía đông, tôi thấy một cảnh tượng đẹp, phía trước Tháp bị che khuất bởi một đỉnh đồi. Tôi liền quyết định trèo lên tới đó, tới 2 tảng đá chồng mà ngày nay vẫn c̣n nằm dưới chân tượng Thánh Lập Ḍng. Nhưng lúc đó tôi phải mở một lối đi, từ quốc lộ thẳng tới đỉnh, băng qua khu đất hiện nay của các Cha Phanxicô. Lên tới tảng đá, tôi không c̣n chút nghi ngờ nào về công dụng của nơi hiểm trở này, hoàn toàn khó phân biệt từ quốc lộ.

Trở lại Huế ngày hôm sau, tôi báo cáo điều đă khám phá cho Sh. Giám Tỉnh. Ba ngày sau, ngài muốn cùng Sh. VAUTHIER-JOSEPH đến thị sát tận nơi. Và cả 3 chúng tôi đều nhất trí.

Ngay tức khắc, chúng tôi nhờ Cha VALLET, chánh xứ Nha Trang, làm đơn xin khai khẩn tŕnh lên ngài Khâm Sứ GRAFFEUIL, dưới sự bảo trợ của Ông GEAI, Tỉnh Trưởng Khánh Ḥa. Vào thời ấy, mỗi kiều dân có thể xin nhượng 10 mẫu đất. Tôi liền xin mua thêm 2 mẫu (nơi có nghĩa trang) cùng với con đường rộng 12m dẫn vào từ quốc lộ. Vài tháng sau, các thủ tục đều được duyệt.

Nhưng khi tin về dự định chuyển các nhà huấn luyện về Nha Trang được loan đi, trở ngại liền ập đến từ khắp nơi. Người ta chê vị trí cách xa trung tâm thành phố, lối vào khó khăn, sự độc hại cho sức khỏe, phí tổn xây cất rất cao, việc phụng tự tôn giáo không thuận tiện...

Ai kể cho thấu nỗi đau của Sh. Giám Tỉnh, những đêm ngài thức trắng và những điều phiền nhiểu ngài phải gánh chịu để bào chữa cho việc chọn địa điểm, việc di dời nhà huấn luyện, và để đảm bảo rằng Tỉnh Ḍng đơn phương gánh chịu mọi phí tổn.

Sự tán đồng của các Đấng Bề Trên là phần thưởng quí báu dành cho sự gan dạ của Sh. DIVY-JOSEPH. Ngài đă biết thuyết phục họ về t́nh thế tuyệt hảo trên cả 4 phương diện địa lư, khí hậu, tôn giáo và vệ sinh y tế, bằng cách trưng ra thơ khích lệ của Đức Giám Mục Địa Phận Qui Nhơn, các giấy phép y tế, các chứng từ của những người có thẩm quyền, trong đó có những nhà chức trách đương nhiệm.

Tháng 6 năm 1931 tôi được người ta giới thiệu với Ông Tỉnh Trưởng GEAI, và ông cam kết sẽ tận t́nh giúp đỡ tôi trong mọi khó khăn.

Nhưng khi những nhát dao rựa khai hoang khởi động, phía Huyện buộc tôi phải làm đơn hợp lệ để ông ta chuyển đạt lên quan Tuần Vũ. Tôi trả lời rằng đă được phép của cấp cao hơn thượng cấp của ông, nghĩa là của Quan Khâm Sứ. Ông ta không kỳ kèo nữa.

Việc phát hoang làm xong, Ông GEAI và Cha VALLET đến “khánh thành” ngọn đồi bằng cách đập vỡ một chai rượu Champagne.

Đồ án xây dựng được dự trù có h́nh chữ “H” nằm ngang (          ). Nhưng khi thềm cao được san bằng, địa h́nh buộc phải cất theo h́nh chữ “công” (          ), như một chiếc máy bay, mà một cánh c̣n dang dở. (             )

  

Đồ án đă được phê duyệt rồi, cần phải t́m cho ra các kiến trúc sư và nhà thầu. Vào tháng 10, tôi về Saigon và Sh. TÉCLAN-MARCEL thay thế tôi. Ông đến nơi với Ông MORIN, kỹ sư của hăng S.I.D.E.C, và Ông COCCIANTE, công tŕnh sư.

Người ta bắt đầu xây nhà tuyên úy, rồi đến Sơ Tập Viện (Petit Noviciat), hồ lớn ngầm và tháp nước.

Nhưng Sh. TÉCLAN-MARCEL được bổ nhiệm làm hiệu trưởng ở Phát Diệm, nên tôi được thuyên chuyển về lại Đồi. Tôi gặp lại những trở ngại đă quen thuộc: dân làng vừa đâm đơn kiện chúng ta v́ đă xây dựng hồ chứa nước trên đỉnh đồi nói là của họ. Một hôm tôi thấy vị phụ tá khâm sứ và quan huyện đến công trường. Cả hai ch́a ra một bản đồ và tuyên bố rằng chúng ta đă lấn sang đất của làng, rằng thỏa ước cá nhân giữa Sh. TÉCLAN-MARCEL với ông thị trưởng không đủ hiệu lực về quyền sử dụng. Họ ra lệnh cho tôi phải đập phá hồ nước. Tôi xin họ cho tôi 15 ngày để giải quyết vấn đề. Chưa hết 3 ngày, tôi mời các thân hào nhân sĩ của làng đến dự bữa tiệc thân hữu và mọi người tha hồ thưởng thức rượu đế, uống mừng sự thịnh vượng của làng và sức khỏe của các Sh. Trong lúc ai nấy đang khoan khoái phút trà dư tửu hậu, tôi đề nghị mua miếng đất gây tranh căi. Mọi người đều chấp thuận và đôi bên vui sướng ra về.

Ngày hôm sau, chúng tôi đến xin yết kiến vị khâm sứ và tŕnh văn tự chuyển nhượng. Đọc xong, ông nói với các thân hào rằng giấy tờ đều hợp lệ, và như thế họ không được tiếp tục gây trở ngại cho các Sh.

Nhưng kỳ thực, chúng ta không bị ràng buộc với làng, v́ đây là đất công cộng, cũng như cả khu đồi c̣n lại, và làng chẳng có quyền ǵ hết. Chúng tôi chỉ hay biết điều này khi mua luôn đỉnh cao nơi đặt tượng Thánh Gioan La San: để xóa tan thái độ đầy ác ư của làng, Sh. THOMAS đ̣i xem cho được sổ bộ của Cù Lao, trong đó không thấy nói tới đỉnh núi nào cả.

Lúc đầu, giữa làng với chúng ta, rơ ràng quan hệ không mấy nhă nhặn. Tuy nhiên ngày nay, sự ḥa thuận lại rất thân t́nh, nhờ có Trường Tiểu Học La San đă mang lại những lợi ích mà không ai phủ nhận.

Trong khi đó, công tŕnh cứ theo đúng tiến độ, và người ta bắt qua đợt 2, gồm có Nhà Hưu Dưỡng, nhà bếp, Tập Viện và Nhà Nguyện. Công việc xây cất đang ở vào lô cuối cùng, th́ ngày 21/03/1933, lúc 16 giờ, người ta thấy các em chuẩn sinh cùng với Cha Tuyên Úy dọn đến. Chưa có ǵ sẵn sàng. Nhà Hưu Dưỡng và Tập Viện th́ chưa có cửa cũng như cửa sổ, c̣n Nhà Nguyện th́ mới mọc lên chưa được tới 3 mét. Vậy nên mọi người cùng san sẻ ngôi nhà Sơ Tập Viện. Nhà Nguyện tạm thời được đặt tại pḥng của dăy Học Viện hiện nay.

Cuối cùng, ngày 15/05/1933, Nhà Nguyện được khánh thành và nhà được làm phép cung hiến. Sh. Giám Tỉnh DOMINIQUE-MARIE, vừa nhậm chức thay thế Sh. DIVY-JOSEPH, không muốn nhiều nghi thức. Nước thánh, vài kinh phụng vụ do Cha Tuyên Úy CHÁNH, – nay đă nghỉ hưu ở Làng Sông, – cử hành, và thế là Thiên Chúa ngự trị trong ngôi nhà của các con cái của Ngài.

 

Sh. SIMON-H̉A - Người dịch: Sh. Lê Thành Tốt

[Liên Lạc No 66, Janvier 1958, pp 6-7]

  

MỘT LỄ NGÂN KHÁNH

 

 Năm nay (1958) chúng tôi kỷ niệm 25 năm hiện diện trên đỉnh đồi, Đồi La San, Nha Trang.

Chúng tôi định mừng kỷ niệm đó theo kiểu của chúng tôi, nghĩa là dùng ng̣i bút thấm sâu vào ḍng kư ức và ḷng tri ân.

Bắt đầu kể từ hôm nay là hai bài viết và những con số, trong khi chờ đợi những bài khác trong các số báo tiếp theo. Chúng tôi hy vọng chúng sẽ làm hài ḷng, không chỉ những ai đă bước vào tuổi 41, mà cả những người đă vượt quá tuổi đó và đă có lần đặt chân nơi b́nh an và lao động này.

Phải, b́nh an và lao động. Không chỉ có b́nh an, với niềm hạnh phúc tất nhiên đi kèm. Mà cả hai: B́nh an và Lao Động.

Khi Sh. DIVY-JOSEPH, theo lời đề nghị của Sh. SIMON-H̉A, đă chọn ngọn đồi này như một điểm canh gác vĩnh hằng trên biển cả, ai dám nghĩ rằng nó sẽ hóa thành một trong các nơi quyến rủ của thành phố, nơi duy nhất mà cảnh sắc trời biển thật hoàn hảo và có sức hấp dẫn đến thế?

Trước đó người ta đă biết, hay đúng hơn, một vài người thông thạo đă biết ngọn đồi ngày nay làm bệ cho tượng bằng đồng chuyển vào từ Trường Puginier, là một trung tâm tôn giáo Champa, được chọn nhờ vị trí được ưu đăi của nó, và giữa nó và Ponagar, hằng năm, người ta đều tổ chức những đám rước tuyệt đẹp và đầy màu sắc theo nghi thức thờ cúng brahman. Gần thời đại của chúng ta hơn, Bác sĩ YERSIN đă chọn đặt ở đấy một cột tín hiệu báo băo giúp các ngư dân trong vùng.

Nhưng thuở ấy, ở đó chỉ có những lùm gai và bụi rậm. Ngày nay, quang cảnh ở Rù Rỳ có thể phần nào gợi lên thực trạng lúc ấy. Ở phần sau, Sh. SIMON-H̉A sẽ nói đến công cuộc san bằng và phát hoang. Lúc này, chúng tôi chỉ muốn nhắc lại bao nhiêu cố gắng đă được đổ dồn vào đấy để cho nó được vẻ quyến rủ như ngày nay.

Khi ngôi nhà được trao cho những người chủ vào ngày 21-3-1933, các khối kiến trúc đă xấp xỉ như hiện nay. Chúng mọc lên trên sỏi cát và giữa những tảng đá hoa cương, trên một thềm đồi không h́nh dạng nhất định. Tô điểm cho mái ấm là công việc của các tập sinh, qua các đoàn kế tiếp nhau.

Trong nhiều năm liền, họ phải hóa thân thành phu đào đất để san bằng, lấp đầy các hố sâu, dùng cuốc xẻng và xà beng gậm ṃn ngọn đồi, dưới ánh nắng mặt trời thiêu đốt và trong suốt những kỳ nghỉ hè. Bạn sẽ nắm rơ mọi chuyện nếu biết rằng thuở ấy không ai dám đi xa hơn khu vực Nhà Tập, trên bậc thềm mà ngày nay người ta rảo bước hóng mát, và rằng những cây xà beng dài 1,50m chỉ c̣n lại 60cm sau 6 tháng sử dụng.

Và khi đồ án xây cất được rơ nét và cân xứng hơn, đến lượt những thế hệ khác tiếp nối công tŕnh gian khổ. Trên đỉnh đồi đá này không t́m được một cây có tán lá. Khắp nơi toàn là cát, đá sỏi và những bụi cây con cằn cọc, đặc trưng của khí hậu nắng và khô hạn. Xa hơn hai bên quốc lộ chạy tới Rù Rỳ, không có lấy một cư dân. Cọp, beo, nai ngự trị trong vùng. Cách nhà chúng tôi khoảng 500m là rừng rú bỏ mặc cho muông thú và cây cỏ nhiệt đới. Những ai đă từng biết Đồi vào khoảng năm 1937, khi nghe kể chuyện, đều gật đầu: “Nha Trang? Biết quá đi mà! Ḥn đá khổng lồ! Mồ hôi như tắm. Nước nhiễm mặn! Nhiều áo! Thậm chí cũng rất cần kính râm!”

Nếu ngày nay họ trở lại đỉnh đồi trọc xưa kia, ắt họ hiểu được cái số lượng và cái giá phải trả cho công tŕnh. Khắp nơi mọc lên đầy ấp những vườn rau cải, cây trái: mít, lê ki ma, măng cầu, vú sữa, xoài, chuối, đu đủ, cải, xà lách xon, su, cà rốt, vv... trên phần đất được bón phân từ 3 chuồng heo cỡ 100 con.

Chiếc đũa thần nào đă biến mảnh đất bỏ hoang thành khu trồng trọt màu mỡ như thế? Không có đũa nào khác ngoài sự lao động của các tập sinh: chúng phát hoang, trồng, tưới, và giờ đây trao công việc lại cho 2 ông lăo chăm sóc vườn. Ai kể cho hết công sức của các Sh. Quản lư kế tiếp nhau! Một vị trong số họ, Sh. FÉLIX-MINH đă phát động cuộc thâm canh này kể từ ngày quả lắc của ngài phát hiện cách 12m trên sườn đồi một luồng nước mà cho đến ngày nay vẫn c̣n dùng để tưới cây khắp cả vườn. Phần thưởng thật tuyệt vời! Khi những hoa trái được dọn lên bàn ăn, chúng tôi tự hào v́ không nơi nào được dồi dào phong phú như vậy, và trên vỏ của chúng, có thể nhận ra tên của những kẻ đă vun trồng cách đây thật nhiều năm.

Chưa hết. C̣n phải làm đẹp ngọn đồi. Mỗi ngày, trong nửa giờ hoặc ba khắc đồng hồ, các chuẩn sinh, tập sinh hoặc Sh. học viện vẫn nhổ cỏ dại, phóng đường, đúc hàng trăm viên gạch để làm bờ, tạo thành những “đại lộ”, đường treo hay vọng lâu, lên núi gở từng mảng cỏ đem về trồng lại nơi những bồn cỏ, trồng cây muồng, cây sọ khỉ, và chuyền tay nhau từng thùng nước để tưới tiêu cho tất cả.

Ngày nay, khi những khách viếng dạo chơi trên đại lộ DIVY-JOSEPH dài thẳng tắp, giữa những bồn cỏ đầy hoa cúc, bất tử, giâm bụt, ít ai ngờ được phải mất cho nó biết bao công lao trí tuệ, và sự kiên tŕ khổ nhọc.

Từ 3 năm nay, nhờ công của Sh. Bề Trên MATHIAS, cây nho đă làm quen với thủy thổ của đồi. Năm nay số gốc cây đă được trải rất rộng. Hầu hết thềm đất cao phía ngoài Tập Viện, dọc theo dăy nhà Tập Viện và Nhà Hưu Dưỡng ở phía Nam, đều có giàn cho cây leo. Mùa thu hoạch Noel hứa hẹn vài ngàn chùm chín muồi đúng lúc, có thể cải thiện bữa ăn “réveillon” và gây quỹ để sửa chữa và tu bổ nhà nguyện. Nhưng đó mới chỉ là hứa hẹn. Do thổ nhưỡng và khí hậu không thuận lợi, cũng như nhiều loại bệnh mà phải xử lư bằng cách xịt sulfate, hẳn nhiên sự canh tác này đ̣i hỏi nhiều sự chăm sóc hơn ở Châu Âu. Những kỹ sư Pháp từ Suối Dầu, phu nhân của một ông tướng, đích thân Bộ Trưởng Bộ Nông Nghiệp, đă đến nghe thuyết giảng về cách trồng nho và ra về với những cành giâm ....

Trước khi chấm dứt, chúng ta hăy nói sơ về những cải thiện vật chất, nhờ ḷng tốt của các đấng bề trên.

Vấn đề lớn của nhà là nước. Mặc dù một giếng nước đă được t́m thấy ở trong vườn vào năm 1942, nước sinh hoạt tới giờ này vẫn c̣n bị phân phối hạn định, đặc biệt vào mùa khô, từ tháng 2 đến tháng 9. Hai hồ chứa với dung tích 500m khối để trử nước mưa và một hồ đựng nước bơm từ giếng thứ hai hơi nhiễm mặn, vẫn không đủ cho tiêu thụ. Năm 1956, Sh. Giám Tỉnh, trong chuyến đi Âu Châu, đă mua về 2 máy bơm quạt gió, nhằm giải quyết khó khăn cho dứt. Được lắp đặt dưới thung lũng, chúng đẩy nước lên cao 35m trên quăng đường dài gần 1km. Hy vọng hè năm tới không c̣n thấy các hồ nước khô cạn, hoặc các em chuẩn sinh, các Sh. học viện, xếp hàng chuyền thùng nước từ hồ đến nhà tắm, hoặc xe bồn của thị xă cứ mỗi 2 ngày chở tới lượng nước cần thiết cho nhu cầu hàng ngày.

Những kỷ niệm trên được gợi lại nhằm nói lên ḷng biết ơn của thế hệ hôm nay đang hưởng những thành quả lao động của các người đi trước, và cũng để bày tỏ sự quyết tâm tiếp nối cùng một con đường can đảm và vô vụ lợi. Cũng như những Sh. trong khoảng 25 năm qua, đă từ đây tung cánh bay đến các công trường trên khắp tỉnh Ḍng, thế hệ ngày nay vững tin vào lớp đàn anh, vào gương tốt đầy hiệu nghiệm của họ, và nhờ ơn Chúa, nguyện xứng đáng nối gót họ trên trường đời anh dũng của công tác thường nhật khiêm tốn.

LƯỢC SỬ TRƯỜNG LA SAN BÁ NINH (1954 – 1975)

Ư tưởng lập Trường Sư Phạm.

Ngày 05-09-1953, dưới sự hiện diện của Sư huynh Cyprien Gẫm - Giám Tỉnh, Sư huynh Bề trên La San Đồi và vị Tỉnh Trưởng tỉnh Khánh Ḥa cùng nhiều quan chức khác, Đức Giám Mục Marcel Piquet chủ sự nghi thức đặt viên đá khởi công xây dựng Trường Sư Phạm Bénilde, Nha Trang. Nhưng do t́nh h́nh chính trị và chiến sự nên bị ngưng trệ.

Năm 1954, Tỉnh Ḍng đổi thành Trường Institution Bénilde tiếp tục xây dựng.

Thành lập cộng đoàn và khai giảng niên khóa đầu tiên

Ngày 30 tháng 7 năm 1954, chính thức thành lập cộng đoàn gồm các sư huynh Henry Ḥa, hiệu trưởng, Amédée Minh, Georges Gẫm, Joachim Hộ, và Louis Lựu.

Ngày 01/09/1954, niên khóa đầu tiên được khai giảng với số học sinh là 85 em chia thành lớp 6 và một lớp 5, học chương tŕnh Pháp. Chỉ vài năm sau, trường La San Bá Ninh đă có một chỗ đứng trong hệ thống giáo dục Nha Trang.

Đến năm 1958, Trường Institution Bénilde đổi thành Trung Học La San Bá Ninh.

Nhờ ơn Chúa, năng lực lănh đạo của Tỉnh Ḍng và các Sư huynh Hiệu trưởng cùng với ḷng nhiệt thành của các Sư huynh cho việc giáo dục giới trẻ, sĩ số học sinh ngày càng gia tăng, kết quả học tập ngày càng cao, cơ sở vật chất ngày càng được sửa chữa và nâng cấp để đáp ứng nhu cầu về lượng cũng như về chất, điều này khiến học sinh ngày càng tự hào về ngôi trường mang tên La San Bá Ninh.

Với phương châm giáo dục toàn diện, song song với việc đào luyện tri thức, trường La San Bá Ninh đă đưa vào chương tŕnh chính khóa các pḥng trào văn nghệ, thể thao, các lớp dạy đối nhân xử thế, trường thường xuyên tổ chức các cuộc thi đấu thể thao, các buổi biểu diễn văn nghệ, chiếu phim, biểu diễn thánh ca.... Đến năm học 1966- 1967 trường đưa thêm vào chương tŕnh thể thao các lớp vơ thuật Nhu Đạo, Vovinam.

Sau 10 năm hoạt động phục vụ giáo dục, năm học 1963-1964, học sinh trường La San Bá Ninh lên đến 630 em với ba cấp học: tiểu học, trung học đệ nhất cấp và trung học đệ nhị cấp.

Năm học 1966 – 1967, năm học kỷ niệm “Đệ Nhất Bách Chu Niên La San Việt Nam”, số học sinh trường La San Bá Ninh đạt đến con số 1.170 em trong 18 lớp học của ba cấp học phổ thông. Trường xây dựng thêm một dăy nhà hai tầng với 3 pḥng học 8mx8m của mỗi tầng.

Bên cạnh các Sư huynh, có một đội ngũ các giáo viên được Ban Lănh Đạo của trường mời về giảng dạy. Mỗi thầy cô một vẻ, nhưng tất cả đều dạy dỗ học sinh theo một tinh thần và linh đạo La San là giáo dục cho học sinh trở nên người về cả trí tuệ, nghề nghiệp, nhân cách và tâm linh để khi vào đời biết sống xứng đáng với nhân phẩm của ḿnh và tôn trọng người khác, cách riêng quan tâm tới người nghèo .

Sau biến cố 1975, các Sư Huynh của ba trường La San Bá Ninh, Giuse Nghĩa Thục, La San Chư Prong cùng với hai sư huynh Hưởng và Tân từ Huế chạy vào nhập chung thành một cộng đoàn trú tại “căn nhà Sablon” để chờ “chỉ thị mới” của UBCM lâm thời... th́... khoảng cuối tháng 7 năm 1983, mảnh đất bé nhỏ c̣n lại trong trường Bá Ninh thuộc về Ḍng La San cũng bị bắt buộc đem “trao đổi” căn nhà số 8 Lê Lợi, Nha Trang (gần Bưu Điện Nha Trang và Chợ Đầm).

Đầu thế kỷ XIX, thành phố Nha Trang c̣n là một băi biển hoang sơ với một làng chài vài mươi nóc nhà tranh ở xóm Cồn dọc theo cửa sông Cái. Chỉ có duy nhất một ngôi nhà 2 tầng mầu trắng là nơi làm việc của Bác sĩ Alexandre Yersin (lầu ông Năm

Tên Nha Trang bắt nguồn từ tiếng Chăm. Đó là Ea Tran hay Yjatran. Ea hay Yja là sông. Tran là lau lách (sông Lau). Gọi như vậy là v́ xưa kia, lau lách mọc đầy hai bên bờ sông Cái đổ ra cửa biển Cù Huân (Nha Trang ngày nay). Lâu dần nó được gọi chệch thành Nha Trang.

Trường La San Bá Ninh thuộc hệ thống các trường Ḍng La San ở Việt Nam. La San là phiên âm của tên thánh Jean-Baptiste de LASALLE, người Pháp (1651-1719), Đấng sáng lập Ḍng các Sư Huynh trường Kytô.

Tại Việt Nam, các Frères có những cơ sở giáo dục ở Hà nội (Trường Puginier),ở Hải Pḥng (trường Thánh Giuse), ơ Huế, Đà Lạt, Kontum, Ban Mê Thuột, Biên Ḥa, Thủ Đức, Sài G̣n, Mỹ Tho, Cần Thơ, Sóc Trăng, Nha Trang.

Trên ngọn đồi ven biển, gần Ḥn Chồng là một khung cảnh thần tiên, dân Nha trang vẫn gọi là “Đồi La San”, từ trên đồi này có thể chiêm ngưỡng những ḥn đảo như Ḥn Chồng, Ḥn Đỏ, Ḥn Tre và vùng vịnh tuyệt đẹp của thành phố Nhatrang.. Đồi La San thành lập ngày 22-03-1933 là một trung tâm huấn luyện đào tạo các thế hệ sư huynh La San, và bên cạnh đó có trường tiểu học La San Vĩnh Phước, trường miễn phí khai giảng niên học đầu tiên ngày 07-09-1952. Năm 1972 trường La San B́nh Lợi, thành lập ngày 16-09-1957 tại Qui Nhơn, đă đóng cửa trả đất lại cho giáo phận và chuyển về đồi La San Nha trang. Đây là trường trung học cấp

III với ngồi nhà xây bên trái đường lên dốc, vừa qua cổng tiến lên đồi La San.

Tại thành phố Nha Trang có trường tiểu học Giuse Nghĩa Thục mở cửa ngày 01-09-1956 đón giới trẻ nghèo thuộc khu vực Xóm Mới và trường trung học La San Bá Ninh mở vào ngày 01-09-1954, bắt đầu là một trường dạy theo chương tŕnh Pháp; bên cạnh là trung học nội trú La San Chư Prong, dành cho giới trẻ dân tộc thiểu số, hoàn toàn miễn phí mở cửa ngày 01-01-1972.

Tất cả các trường La San tại Nhatrang cũng như trên toàn quốc đều đóng cửa vào năm 1975.

Trường LA SAN BÁ NINH có 2 cổng chính, một mở ra phía biển trên đường Duy Tân và một mở ra đường Nguyễn Tri Phương nh́n qua trường Tây (Collège français de Nha Trang). Trường LA SAN BÁ NINH, khởi đầu có tên Institution Bénilde, là một trường dạy theo chương tŕnh Pháp. Tên Bénilde là tên một Frère; Thánh sư huynh Bénilde, sinh ngày 14-6-1805 tại Thuret (Pháp) và mất ngày 13-8-1862 tại Saugues (Pháp). Đức Giáo Hoàng Phaolô VI tôn vinh ngài lên bậc Hiển Thánh ngày 29-10-1967.

Ngày 01/09/1954 Institution Bénilde (tên La San Bá Ninh chính thức dùng từ 1958) khai giảng niên khóa đầu tiên, chương tŕnh Pháp với sĩ số học sinh là 85 em được chia thành 3 lớp: lớp dự bị 6è, lớp 6è và lớp 5è.

Niên khóa 1956-1957, trường mở lớp đệ thất với pháp văn làm ngoại ngữ, sĩ số xin vào học đệ thất lên đến hơn 50 em; đồng thời chương tŕnh Pháp vẫn tiếp tục.

Niên khóa 1957-1958, trường mở thêm lớp đệ lục. Vào thời này ngôi nhà trệt được xây dựng chạy dài nối tiếp nhà vệ sinh ra đường Duy Tân, là khối lớp đệ thất sau này.Trường đổi tên là: Trung Học La San Bá Ninh; Frère Gonzague phiên âm tên Bénilde thành Bá Ninh.

Theo Frère Gonzague th́ Bénilde có 2 vần,

- vần Bê=Bá, từ ngữ này trích từ tên một loại cây thân mộc, cây bá (cây trắc) đây là loại có thân gỗ quư, vân đẹp và bền chắc…,

- vần nilde=Ninh do phát âm.

Sĩ số học sinh của toàn trường năm nay lên đến 246 em được chia ra thành 5 lớp và một khóa đặc biệt để chuẩn bị thi bằng Brevet (cuối lớp Troisième Pháp) tương đương bằng tốt nghiệp trung học đệ nhất cấp, (cuối lớp đệ tứ hay lớp 9 hiện nay), thành phần sỹ số: 2 lớp đệ thất (lớp 6), 100 hs; 1 lớp đệ lục (lớp 7), 60 hs; 1 lớp đệ ngũ (lớp-8), 60 hs; 1 lớp đệ tứ (lớp 9), 14 hs; 1 lớp troisième (chương tŕnh Pháp), 12 hs.

Niên khóa 1959-1960

Trường La San Bá Ninh mở ba lớp đệ thất và ban giám hiệu quyết định mở thêm lớp đệ tam (lớp 10), lớp đầu tiên của Đệ Nhị cấp (cấp III). Sĩ số học sinh của Bá Ninh vượt quá con số 400. Từ niên khóa này trường mời 2 giáo sư không là tu sĩ La San, vào cộng tác với các sư huynh trong việc giảng dạy.

Niên khóa 1962-1963

Năm nay, nhà trường mở thêm một lớp đệ thất (lớp thứ tư) với Anh văn là sinh ngữ chính và một lớp đệ ngũ (lớp thứ hai). Sĩ số học sinh vào ngày tựu trường là 630 em.

Niên khóa 1966-1967

Trường La San Bá Ninh có tất cả là 18 lớp, tổng sỹ số là 1.170 học sinh. Vào cuối tháng tám, nhà trường khởi công xây dựng một dăy nhà 2 tầng, song song với đường Duy Tân, đối diện với biển, mỗi tầng gồm 3 pḥng học với kích thước 8m x 8m, mỗi bên có hành lang rộng 2m.

Niên khóa này bắt đầu dạy Thái cực Đạo, bên cạnh đó ban nhạc của trường, ban nhạc Blue Sea ra mắt năm này và đến năm 1970 các phong trào vơ thuật như Nhu Đạo, và Vovinam... cũng được đưa vào học đường. Thể thao bóng rổ luôn là môn giải trí thích thú nhất của tuổi trẻ La San Bá Ninh cùng với băi biển bên kia đường Duy Tân.Nói đến Bá Ninh, không thể không nhắc đến phong trào thể thao và những chiếc cúp đă đoạt được trong các giải liên trường, liên tỉnh, đặc biệt về môn bóng rổ. một vài “cầu thủ” thời oanh liệt đó là các anh, Ái, Lộc … kể cả frère Vân Hà,

Từ niên học 1969-1970, trường La San Bá Ninh khởi sắc nhốn nhao với sự xuất hiện của 2 cô giáo là cô Minh Thu và cô Cảnh Tịnh, đây là 2 bông hồng quư hiếm giữa những cây xanh chỉ có lá mà chẳng có hoa. Buổi chào cờ đầu năm, đầu tuần và những lần kế tiếp các học sinh trường phần đông nh́n về phía 2 cô giáo này. Hai cô giáo luôn mặc áo dài truyền thống, cả 2 cô giáo đều được toàn trường kính trọng và yêu thương.

Các vị hiệu trưởng của trường:

1954-1955: Frère Henri Nguyễn ngọc Trân

1955-1958: Frère Roger Trần đ́nh Vĩnh

1958-1964: Frère Raymond Đặng văn Hinh

1964-1970: Frère Casimir Phan văn Chức

1970-1973: Frère Từ Thiện Lê thành Tốt

1973-1975: Frère Thierry Nguyễn văn Tín.

Bài viết của Thầy Phan Huy Hà - Cựu Sư Huynh Trường Bá Ninh