CHÚA NHẬT VII PHỤNG VỤ THƯỜNG NIÊN
SAO ÔNG TA DÁM NÓI VẬY?
NGUYỄN HỌC TẬP


Trong các bài Phúc Âm của ba Chúa Nhật vừa qua, chúng ta được biết Chúa Giêsu đến Capharnaum, Người đă chữa nhiều người bệnh tật và trừ qủy ở đó. Nhưng rồi Người phải ra đi để tiếp tục rao giảng Phúc Âm cho các làng xă chung quanh :" Chúng ta hăy đi nơi khác, đến các làng xă chung quanh , để Thầy c̣n rao giảng ở đó nữa, v́ Thầy ra đi cốt để làm việc đó" ( Mc 1, 38).

Trong lúc ở Capharnaum Chúa Giêsu " chữa nhiều kẻ ốm đau, mắc đủ thứ bệnh tật…" (Mc 1, 34), nhưng " mọi người đang t́m Thầy" ( Mc 1, 37), và " cả thành xúm lại trước cửa" ( Mc 1, 33), nên việc Chúa Giêsu ra đi là bỏ giở công việc cứu chữa Người đang thực hiện.

Bởi đó một ít ngày sau, được biết tin Chúa Giêsu trở lại Caphanaum, " cả thành lại xúm lại trước cửa" nữa, và lần nầy chắc chắn họ tràn ngập vào trong nhà, ngoài sân và xung quanh nhà:" Vài ngày sau, Chúa Giêsu trở lại Capharnaum. Hay tin Người ở nhà, dân chúng tụ tập lại, đông đến nỗi trong nhà ngoài sân không chứa hết" ( Mc 2, 1-2).
Dân chúng tụ họp lại đông đảo không những v́ thấy các phép lạ người làm, mà c̣n cả những lời giảng dạy khôn ngoan của Ngài đă đánh động họ:"Thiên hạ sửng sốt về những lời giảng của Ngài, v́ Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chớ không như các kinh sư " ( Mc 1, 22).

Khác hơn mấy lần trước Chúa Giêsu lo " chữa cho nhiều kẻ ốm đau, mắc đủ thứ bệnh tật, và trừ nhiều quỷ…" ( Mc 1, 34), lần nầy th́ Chúa Giêsu chú trọng giảng dạy:" Người giảng dạy cho họ" ( Mc 2, 2).
Và v́ " cả thành xúm lại trước cửa" và " đông đến nỗi trong nhà ngoài sân không chứa hết", nên bốn người thân khiêng kẻ bị tê liệt phải nghĩ ra kế hoạch để đột nhập:" Bấy giờ người ta đem đến cho Chúa Giêsu kẻ bị tê liệt, có bốn người khiêng…Nhưng v́ dân chúng quá đông, nên họ không sao khiêng đến gần Người được. Họ mới dỡ mái nhà, ngay trên chổ Người ngồi làm thành một lỗ hôûng, rồi thả người bại liệt nằm trên chơng xuống" ( Mc 2, 3-4).

Yếu tố bất ngờ là niềm tin mănh liệt của bốn người thân khiêng kẻ bị bại liệt " dỡ mái nhà…làm thành lỗ hổng, rồi thả người bại liệt nằm trên chơng xuống" làm cho Chúa Giêsu gián đoạn bài giảng của Ngài.
Ngài gián đoạn bài giảng và khâm phục đức tin của họ, nên Ngài âu yếm nh́n người bại liệt:" Nầy con, con đă được tha tội rồi " ( Mc 2, 5). Lời Ngài nói với người bị bại liệt cũng giống như lời nói với Madalena:" …Tội của chị rất nhiều nhưng đă được tha, bằng cớ là chị đă yêu mến nhiều…Ḷng tin của con đă cứu con. Con hăy ra về bằng an" ( Lc 7, 47.50)

Qua hai câu Phúa Âm vừa trích dẫn, điều ǵ đă làm cho chúng ta trở lại trong niềm thân t́nh với Chúa?

Đức tin. Đức tin mănh liệt của người bại liệt và bốn người thân đă dỡ mái nhà, làm thành lỗ hổng, rồi thả người bại liệt nằm trên chơng xuống. Đức tin và ḷng thương mến:" Chị đứng đàng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ước chân Người. Chị lấy tóc ḿnh mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên" ( Lc 7, 38).

Ḷng thương mến Chúa và đức tin hoàn toàn ủy thác vào cánh tay Chúa đă làm cho những con người tội lỗi trở lại cuộc sống thân t́nh Cha con với Chúa:" Ḷng tin của con đă cứu con. Con hăy ra về bằng an". Hay: "Credo in Unum Deum, Patem Omnipotentem": Con tin kính ( vào) một Thiên Chúa Duy Nhất , là Cha Toàn Năng ( Kinh Tin Kính). Không phải " tôi tin có một Thiên Chúa", có hay không cũng được, vô thưởng vô phạt, mà là tin vào ( Credo in Unum Deum). Tin tưởng và phó thác như đứa trẻ buông ḿnh phó thác hoàn toàn vào cánh tay của người mẹ.

Và nếu đức tin phó thác và ḷng yêu mến là hai đức tính phải có để chúng ta sống thân t́nh với Chúa, th́ những ǵ ngược lại với đức tin và đức bác ái cản trở chúng ta và cản trở anh em chúng ta sống gần Chúa. Đó là ư nghĩa những ǵ Thánh Marco kể tiếp cho chúng ta hôm nay qua việc Chúa Giêsu chữa người bại liệt. Khi Chúa Giêsu vừa nói với người bại liệt " Nầy con, tội của con đă được tha", Ngài chưa kịp nói tiếp với bệnh nhân là anh đă được chữa khỏi bệnh tật, " hăy đứng dậy, vác chơng của con mà về" ( Mc 2, 11), th́ các kinh sư là những người " đạo đức" hơn ai hết đă bất măn trong bụng:" Nhưng có mấy kinh sư đang ngồi ở đó, họ nghĩ thầm trong bụng: Sao ông nầy lại dám nói như vậy? Ông ta nói phạm thượng! Ai có quyền tha tội, ngoài một ḿnh Thiên Chúa?" ( Mc 2, 7). " Sao ông nầy dám nói vậy? Ông ta nói phạm thượng!". Đó là những ǵ các kinh sư đang nghĩ trong ḷng , " nhưng có mấy kinh sư đang ngồi ở đó, họ nghĩ thầm trong bụng".

Những điều họ nghĩ trong bụng đó, " tâm trí Chúa Giêsu thấu biết ngay họ đang nghĩ thầm như thế" ( Mc 2, 8). " Ai có quyền tha tội, ngoài một ḿnh Thiên Chúa". Thánh Marco không b́nh luận thêm những ǵ " họ nghĩ thầm trong bụng", nhưng qua những đoạn Phúc Âm tường thuật lại những phép lạ được Chúa Giêsu thực hiện ở Capharnaum, chúng ta có thể hiểu theo văn mạch dụng ư của những ǵ " họ nghĩ thầm trong bụng".
Đó là đoạn nói lên cảm tưởng của dân chúng:" Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, v́ Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chớ không như các kinh sư" ( Mc 1, 22).

Và rồi khi người bệnh phong hủi được chữa khỏi, Chúa Giêsu bảo anh:" Coi chừng đừng nói ǵ với ai cả, nhưng hăy đi tŕnh diện tư tế, và v́ anh được sạch, th́ hăy dâng những ǵ ông Moisen đă truyền ( dĩ nhiên là dâng trong đền thờ cho các kinh sư), để làm chứng cho người ta biết" ( Mc 1, 44).

Nói cách khác, " sao ông nầy dám nói vậy? Ông ta nói phạm thượng! Ai có quyền tha tội, ngoài Thiên Chúa" và dĩ nhiên là những kinh sự đại diện cho Ngài. Họ đang sợ Chúa Giêsu lấn chiếm quyền hành của họ, bởi v́ "thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người", " cả thành xúm lại trước cửa" và "đông đến nỗi trong nhà ngoài sân không chứa hết".

Hiểu được như vậy, thái độ khiển trách Chúa Giêsu "sao ông nầy dám nói vậy? Ông ta nói phạm thượng! Ai có quyền tha tội, ngoài Thiên Chúa" chỉ là những lời viện cớ bênh vực quyền của Thiên Chúa, để che giấu thực tâm ẩn ư ghen tỵ ganh ghét bên trong. Đối với họ, không có bất cứ một lời nói, hành vi cử chỉ nào của Chúa Giêsu là đứng đắn, chính đáng. Những câu vặn hỏi lại của Chúa Giêsu càng cho chúng ta thấy rỏ thực tâm, những điều "họ nghĩ trong bụng":
" Ai trong các ông có một con chiên độc nhất bị sa hố ngày sabat, lại không nắm lấy nó và kéo lên sao? Ma ø con người th́ qúy hơn chiên biết mấy!" ( Mt 11, 12).
" Ngày sabat được phép làm điều lành hay điều dữ, cứu mạng người hay giết đi" (Mc 3,4).
" Ngày sabat được tạo nên cho con người, chứ không phải con người cho ngày sabat" ( Mc 2, 27).

Những câu nói vừa kể, cũng như những điều "họ nghĩ trong bụng" trong đoạn Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay cho chúng ta thấy những lư lẽ viện cớ để bênh vực truyền thống, lề luật và bênh vực quyền của Thiên Chúa, cũng như dă tâm của các kinh sư, những người "đạo đức", thay mặt Thiên Chúa. Họ bênh vực truyền thống, bênh vực lề luật, bênh vực "quyền của Thiên Chúa" và coi con người c̣n thua thú vật, thua con chiên của họ bị sa hố.
Thái độ giả h́nh và dă man đó đă bị thánh Gioan lột mặt nạ:" Ai nói rằng : "Tôi yêu mến Thiên Chúa" mà lại ghét anh em ḿnh, người ấy là kẻ nói dối; v́ ai không yêu thương anh em mà họ trong thấy, th́ không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy" ( 1 Jn 4, 20).

Không ai có thể cho rằng ḿnh kính trọng Thiên Chúa, tôn trọng tôn giáo, dành mọi dễ dàng cho việc tái thiết, xây cất chùa chiền, thánh đường khang trang; rước kiệu long trọng ŕnh rang, chủng viện tu viện được thu nhận ứng sinh hàng loạt; các chức sắc, giám mục, linh mục, tu sĩ xuất ngoại rầm rộ… ,để viện cớ che giấu xă hội thối nát, hối lộ là quốc sách của chính sách xin-cho, chính sách tổ chức xă hội làm cho tha hoá con người, đưa đến cuộc sống đầy bệnh tật, nghèo nàn và dốt nát và nô lệ.

Cách hành xử đó có phải là cách hành xử của các kinh sư " đạo đức" không? - " …ai không yêu thương anh em mà họ trông thấy, th́ không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy". Và nếu chúng ta suy nghĩ xa hơn một chút, Ki Tô giáo chỉ có hai điều răn: kính Chúa và yêu người.

Theo lời cảnh cáo của Thánh Gioan chúng ta vừa trích dẫn: ai không yêu thương lo lắng cho anh em, th́ cũng chẳng có kính yêu ǵ Thiên Chúa.

Con người như vậy là con người vừa vô thần, vừa vô nhân đạo. Con người đó, thể chế đó chỉ biết viện cớ che lấp bên ngoài để cũng cố quyền lực, thu góp của cải, phục vụ cho chính ḿnh và cho phe nhóm. Vừa vô thần vừa vô phi nhân !