III. Giai đoạn 1889-1954
A. Quản Trị Hành Chánh của Nhà Ḍng trong vùng Á Châu
Các Huynh Phụ Quyền phụ giúp Tôn Huynh tổng quyền
trong việc quản trị nhà ḍng trên thế giới.
Danh sách các Huynh Phụ Quyền đặc trách vùng Á
Châu:
. ...
. 1875 - 1880 : Huynh phụ quyền Agapet
. 1882 - 1906 : Huynh phụ quyền Aimarus
. 1907 - 1913 : Huynh phụ quyền Imier de Jésus
. 1913 - 1920 : Huynh phụ quyền Anthime Louis
. 1920 - 1946 : Huynh phụ quyền Arèse Casimir
. 1946 - 1956 : Huynh phụ quyền Zacharias
. 1956 - 1966 : Huynh phụ quyền Lawrence O'Toole.
. 1966 - 1976 : Huynh phụ quyền Michael Jacques
| Sư Huynh Michael Jacques,
nguyên giám tỉnh Tỉnh ḍng Malaysia, đảm nhận công việc của một
"Huynh Phụ Quyền" cuối củng, đặc trách vùng Đông Nam Á (1966 - 1976) Sau tổng công hội 1976 có nhiều sự thay đổi trong cơ cấu tổ chức quản trị hành chánh. Không c̣n chức vụ "phụ quyền". Thay vào đó, "Huynh Trưởng Vùng" có nhiệm vụ liên lạc và điều hợp giữa các tỉnh ḍng trong cùng một vùng địa dư được phân định rơ ràng. |
|
Quản Trị Hành Chánh trong ḍng La San vùng Á Châu đặc biệt khu vực Đông Dương và Việt Nam từ năm mới thành lập (1866) cho đến năm 1895, "Khối" Đông Dương trực thuộc tỉnh ḍng Ấn Độ và hoàn toàn tự trị với danh xưng Tỉnh Ḍng Saigon năm 1896.
Danh sách các Huynh giám tỉnh đặc trách quản trị
hành chánh và điều khiển tỉnh ḍng Ấn Độ và tinh ḍng Saigon (Việt Nam) kể từ
năm 1866 đến năm 1895
- Tỉnh ḍng Ấn Độ và "Khối" Đông Dương:
. 1866 - 1872 : Huynh giám tỉnh Jaime
. 1873 - 1877 : Huynh giám tỉnh Lothaire-Marie
. 1878 - 1888 : Huynh giám tỉnh Idinaélis
. 1888 - 1893 : Huynh giám tỉnh Bernard-Louis
. 1893 - 1895 : Huynh giám tỉnh Abban
- Tỉnh ḍng Đông Dương : Việt Nam và Cambodge
. 1896 - 1912 : Huynh giám tỉnh Ivarch-Louis
. 1913 - 1920 : Huynh giám tỉnh Albin-Camille
. 1920 - 1925 : Huynh giám tỉnh Aglibert-Marie
. 1925 - 1926 : Huynh giám tỉnh Christophe-Léon
. 1926 - 1933 : Huynh giám tỉnh Divy-Joseph
. 1933 - 1936 : Huynh giám tỉnh Dominique-Marie
. 1936 - 1942 : Huynh giám tỉnh Donatien-Jules
. 1942 - 1951 : Huynh giám tỉnh Domicé-Rogatien

Tôn Huynh Tổng quyền Junien-Victor bổ nhiệm Huynh Donatien-Jules làm giám tỉnh
Đông Dương
qua "Phận vụ lệnh" kư ngày 31 tháng 5 năm 1936 tại Lembecq-les-Hal [Nhà Mẹ ở
nước Bỉ lúc bấy giờ]
***
B. Hồ sơ 17450 - D8 f2
"Các Sư Huynh trở lại Saigon năm 1889, và hoàn
toàn điều khiển trường Taberd.
Từ Saigon, các Sư Huynh đă mở rộng tầm sinh hoạt gần như khắp nơi, trên
toàn bộ lănh thổ Đông Dương với 21 triệu cư dân và rộng 720,000 cây số số vuông...
... Các Sư Huynh An Nam được huấn luyện và phụ giúp cách hữu hiệu những nổ lực
của anh em đồng môn người Pháp.
... Nhiều học sinh xuất thân từ trường các Sư Huynh được tuyển chọn làm công
chức và làm việc trong nhiều cơ quan Hành Chánh Pháp. Họ thực sự thành công sáng
chói trong công việc nhờ được giáo dục căn bản vững chắc và kỹ lưỡng khi c̣n
ngồi trên ghế học ở nhà trường...
... Các Sư Huynh đón nhận tất cả học sinh, không phân biệt tôn giáo tín ngưỡng;
tuy nhiên, không một ai được miễn trừ học giáo lư. Thật sự, tất cả học sinh đều
thích thú việc học giáo lư, và điều đáng lưu ư là không thiếu các em học sinh
ngoại giáo lại chiếm hạng nhất về môn học này..."
Nhu cầu học chữ và được giáo dục ngày càng khẩn cấp. Số các Sư Huynh sinh hoạt tại "mẫu quốc" cũng rất giới hạn nên không thể gởi thêm người qua tăng cường được. Công việc của các Sư Huynh "thừa sai người Pháp tại Đông Dương và Việt Nam" thật nặng nhọc, cộng thêm môi trường sinh sống hoàn toàn mới lạ và khác hẳn với môi sinh ở "quê nhà" nên ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe thể chất lẫn tinh thần.
V́ thế, ngày 10 tháng 10 năm 1899, tôn
Huynh tổng quyền Gabriel Marie viết tay lá thư dài 3 trang "Huấn Thị gởi Huynh
giám tỉnh đặc trách vùng Đông Dương" nhắc nhở:
- "... một số Sư Huynh cần phải trở về Pháp v́ lư do sức khỏe, thuốc men,
v.v..."
- "... một số Sư Huynh quá yếu sức để hoàn tất công việc được giao phó,
v.v..."
- "... Huynh giám tỉnh chỉ nhận điều hành một nhà nội trú khi bảo đảm
được cung cấp đầy đủ tiện nghi, với sân chơi giải trí ứng hợp với số lượng
học sinh, v.v...."
- "..."



***
C. Hồ sơ D1f2 #4
Trích báo cáo của "Xứ Truyền Giáo ủy thác cho Hội Truyền Giáo hải ngoại"
ngày 1 tháng 10 năm 1903
"... Xứ truyền giáo thành lập năm 1844, bao gồm sáu tỉnh thành Đông
Dương, Cambodge và một phần vương quốc Lào.
... số người theo đạo : 63,493 trên tổng số dân cư thuộc vùng xứ truyền giáo
2,968,529 (kiểm tra dân số ngày 27 tháng 12 năm 1901)
... cuộc bắt đạo đă đảo lộn và phá tan mọi thứ: không có nhà thờ, không có
tu viện, không có trường học
... thành phần nhân sự phục vụ tôn giáo: 54 thừa sai người Pháp, 74
linh mục bản xứ, 50 đại chủng sinh, 72 chủng sinh, 50 thầy giảng dạy giáo lư.
... thành phần các tu sĩ: 46 Anh Em Trường Ki-tô và 26 tập sinh, 33
Nữ Carmélites (trong đó 30 người bản xứ), 90 người Pháp và 190 người bản xứ
thuộc ḍng thánh Paul de Chartres, và 400 nữ tu người bản xứ được gọi là "Mến
Thánh Giá.
..."
Mặc dù nguồn tài trợ chi phí cho việc "chiêu mộ" thanh niên trai trẻ bản xứ gia nhập và dấn thân phục vụ giáo dục vào các nhà huấn luyện, Đệ Tử Viện, Nhà Tập, v.v. không dồi dào, nhưng đó là căn bản cho sự tồn vong của sứ mạng tông đồ giáo dục theo tôn chỉ "việc giáo dục con em giới thợ thuyền... luôn luôn cần thiết, mọi nơi mọi lúc" mà thánh lập ḍng La San đă đề xuất từ năm 1680, và đó cũng là tâm nguyện của các Sư Huynh thừa sai tiên khởi khi sẵn sàng lên đường đến Đông Dương, Việt Nam đầu năm 1866.
Thêm vào đó việc theo "tà đạo tây phương" hay bất kỳ một "giáo
phái" hay một "tà phái" mới lạ nào cũng không thể tránh khỏi những lạm dụng,
hoặc một mưu đồ cho lợi ích cá nhân hay lợi ích chính trị trong xă hội.
"Người Annamite không cực đoan, mà cách chung, họ chịu theo đạo công giáo là
v́ có lợi lộc. Đến ngày mà họ cảm thấy không c̣n lợi lộc vật chất nào để
theo dạo công giáo th́ họ âm thầm trở lại với việc tôn thờ tổ tiên, và
các nhà truyền giáo biết rất rơ việc này v́ các ngài thú nhận rằng chỉ có
thể hoán cải dân bản xứ theo đạo công giáo trong thế hệ thứ hai và thứ ba..."

Tuy nhiên trong vùng Châu Á nói chung, trong một quốc gia như Việt Nam nói riêng, nền văn minh văn hóa và tôn giáo (Khổng giáo, Phật giáo, v.v...) hoặc tín ngưỡng đơn thuần vào "Ông Trời, Ông Bà Tổ Tiên, v.v..." đă thấm nhuần vào nếp sống truyến thống văn hóa xă hội và tâm linh trên 3, 4 ngàn năm nay, th́ việc xâm nhập một "tà đạo tây phương" - nhất là phương cách xâm nhập tà đạo này ít nhiều ăn theo hoặc là cái cớ "để Vị hoàng đế Napoléon III hứa sẽ hành động hữu hiệu, và đó là nguyên nhân khởi động việc tiến chiếm Đông Dương". trong âm mưu chiếm đất dành dân của phong trào thực dân của các quốc gia hùng mạnh đến từ tây phương lúc bấy giờ - không thể tránh những đụng độ, thù ghét, bách hại nhằm tiêu diệt "tà đạo tây phương" đó. Lịch sử dân tộc cũng như lịch sử tôn giáo của Việt Nam đă nói quá nhiều về vấn đề này.
Trong phạm vi nhỏ hẹp của ḍng La San tại Việt Nam, Hồ sơ số 261 ghi
ngày 1 tháng 12 năm 1892 ghi rơ:
... Trong vùng này, sự bắt
hại người tín hữu Ki-tô chẳng những không suy giảm, mà c̣n tăng cường độ
trong khoảng thời gian mới đây, đến mức độ tàn bạo trầm trọng, do sự làm lơ
của chính quyền địa phương. Ngay cả một số phần tử của hoàng tộc vua Minh
Mạng, v́ đă lănh nhận phép rửa tội mà bị xử tử, hoặc bị lưu đày, hoặc bị
nhốt trong tù..."

Mặc dầu việc bắt đạo rất gắt và sự thù nghịch của "truyền
thống đạo giáo" đối với "tà đạo tây phương" thật rơ ràng, nhưng không thiếu
người "sẵn sàng chịu chết v́ đạo Kitô" và cũng không thiếu thanh niên trai
trẻ bất chấp mọi h́nh phạt ngăn trở của gia đ́nh để "theo đạo" và c̣n đi xa
hơn nữa: "đi tu", như ghi nhận trong Hồ sơ NJ 450 D8f2 4/14 :
"... Nếu một em bé (học sinh) tuần phục theo đạo công giáo th́ quả thật
đó là một sự xáo trộn, một sự phân tán trong gia đ́nh; là một sự từ bỏ toàn
bộ quá khứ, là sự tàn phá toàn diện mọi mong ước và là sự hủy hoại những
truyền thống thánh thiện nhất...
Nhưng Chúa Quan Pḥng có đường lối của Ngài, và định đoạt khác hẳn. Cậu bé
này (*) với gương mặt hiền từ, với đôi mắt sáng ngời dưới đôi mắt kiếng 'trước
tuổi', sẽ là khí cụ Thiên Chúa dùng để hoán cải anh em chị em và tất cả gia
đ́nh, và cả thôn làng. Cậu sẽ là một tông đồ nhiệt thành của Ki-tô giáo, mặc
dầu cậu đă là niềm hy vọng của cha mẹ giàu có đă định đoạt cậu thành rường
cột trong gia tộc theo Phật giáo..."
(*) Cậu con trai này đă bất chấp mọi ngăn cản và răn đe - và có lần bị "bắt
cóc" - của mọi người trong gia tộc, và đă hiên ngang nhận lănh bí tích rửa
tội tháng 12 năm 1912, nhận lănh áo ḍng La San và được huấn luyện tại Nhà
Tập ở Huế tháng 8 năm 1914... Đó là Sư Huynh Vincent Hoa, một trong những Sư
Huynh "An Nam" đầu tiên.
Nhà Tập đầu tiên được mở ra tại Thủ Đức năm 1895. Mọi sự b́nh thường suông
sẻ cho đến năm 1904, và đă đem lại cho Tỉnh ḍng non trẻ nhiều Sư Huynh bản
xứ người Việt vừa thật đáng quí trọng vừa thật sự khích lệ cho tương lai
Tỉnh Ḍng. Trong thời buổi này, v́ lo sợ rằng những thay đổi chính sách tai
hại đă đóng cửa các trường sở tôn giáo tại Pháp cũng có thể áp dụng cho Đông
Dương nên ban Lănh Đạo cho chuyển Nhà Tập về Huế là kinh đô hoàng tộc, ngày
05-01-1906.
Đến năm 1933, các Nhà Huấn Luyện rời kinh đô Huế, được chuyển đến Nha Trang,
trên một ngọn đồi tuyệt đẹp vùng Cù Lao. Ngọn đồi cao 25 mét so với mực nước
bỉển. Tại đây, trong ṿng 10 năm trường, các Sơ tập sinh, Tập sinh và Kinh
sinh trải qua nhiều thế hệ đă chung sức dùng cuốc, sẻng - ngay cả chất nổ,
đào xới và san bằng một ngọn đồi nhỏ, mở rộng diện tích mặt bằng rộng lớn,
khang trang, và... tuyệt vời.
Bản báo cáo tổng quát về nhân sự của Tỉnh ḍng Saigon ghi lại:
" Tách khỏi tỉnh ḍng Ấn Độ năm 1896, tỉnh ḍng Saigon có 2 cơ sở (Taberd
tại Saigon và Ha Nội) với 24 Sư Huynh, trong đó có 1 Sư Huynh người bản xứ.
Hôm nay, tỉnh ḍng Saigon có 8 cơ sở, 7 ngôi trường với 77 Sư Huynh, trong
đó 57 Sư Huynh người Pháp, 1 Sư Huynh người Irlande và 19 Sư Huynh ngjười
bản xứ..."
D. 6 Sư Huynh mất tích giữa Qui Nhơn và Tourane, trên hải
tŕnh đi Hải Pḥng.
Tuy nhân số tăng đến "77 Sư Huynh hoạt động trong 8 cơ sở và 7 ngôi trường",
nhưng nhu cầu giảng dạy vẫn c̣n quá lớn, nên có thêm 6 Sư Huynh người Pháp
được "tăng viện", khởi hành ngày 23 tháng 10 năm 1924 từ Marseille, và cập
bến Saigon ngày 17 tháng 11.
Sáng sớm hôm sau, các Sư Huynh lại tiếp tục lên
đường:
- Sư Huynh Bernard-Joseph đi Hải Pḥng, tạm thời điều khiển trường tại
Hải Pḥng;
- Sư Huynh Daniel-Laurent đi Qui Nhơn, thay thế Sư Huynh Venant-Marcel di
chuyển về Hải Pḥng;
- Sư Huynh Cléophas-Louis và 2 người trẻ đi Huế với Sư Huynh Domitien-Elie -
nguyên Huynh trưởng tại Pnom-Penh, được bổ nhiệm làm Huynh trưởng Nhà Tập;
...
Chiếc tàu đến Cap Saint Jacques th́ hải đăng báo hiệu cho biết "sẽ có trận
cuồng phong băo lớn..." nhưng viên thuyền trưởng nghĩ rằng không cần phải
quay trở lại, và cứ tiếp tục cuộc hải tŕnh.
...
Mất liên lạc truyền tin...
Suốt 2 tuần đầu tháng 12, nhiều tàu bè ra sức t́m kiếm...
Vô hiệu.
Đến giữa tháng 1 năm 1925, không c̣n hy vọng.
Thánh lễ "cầu hồn" đă được tổ chức đó đây:
- Ngày 17 tháng 1, tại Pnom-Penh;
- Ngày 19 tháng 1, tại Hà Nội
- Giám mục giáo phận Huế chủ lễ "cầu hồn" tại Huế, ngày 19 tháng 1.
RIP
- Sư Huynh Bernard-Joseph, cháu ruột của Huynh giám tỉnh Louis, 58 tuổi;
- Sư Huynh Cléophas-Louis, 50 tuổi;
- Sư Huynh Domitien-Elie, 50 tuổi;
- Sư Huynh Venant-Marcel, 23 tuổi;
- Sư Huynh Constant-Emile, 19 tuổi;
- Sư Huynh Bernard-Paul, 18 tuổi.
[Phụ Lục: Xin đọc thêm chi tiết trong bài tường thuật của một cựu học sinh gởi Nhà Mẹ tại Rôma]
***
E. Việc chiêu mộ thanh niên trẻ tuổi - "quá trẻ" ? - đă được báo cáo cho Thánh Bộ Tu Sĩ tại Vatican, và thư kư Vincent La Puma thừa lệnh hồng y Laurenti Bộ trưởng, đă gởi cho Huynh Alessio tổng quản ḍng các Sư Huynh thư cảnh báo, đề ngày 13 tháng 12 năm 1927.
Văn Pḥng Thư Kư
Thánh Bộ Tu Sĩ
Rome, ngày 13 tháng 12 năm 1927
Sư Huynh Khả Kính,
Người ta đă báo cho Thánh Bộ Tu Sĩ biết rằng Ḍng Anh Em
Trường Ki-tô đón nhận tại Đông Dương nhiều dân bản xứ đến độ những người này
chiếm tới hai phần ba tổng số các Sư Huynh bên đó. Người ta cũng nhận xét
rằng có lẽ cần thiết hơn là đợi đến một tuổi già dặn hơn mới được nhận vào
nhà tập và cho khấn ḍng. Những người Annamites, người ta nói, c̣n như con
nít, và nếu xét về phương diện thể lư họ lớn trước tuổi về phương diện luân
lư, nghĩa là đối với việc thận trọng, phán đoán, suy tư, họ phát triển rất
chậm.
Theo lời khuyên của những tu sĩ từng sinh sống lâu năm bên đó, nên kéo dài
thời gian thỉnh sinh ít nhất là đến 21 tuổi; như thế họ có thể có thời gian
học hỏi tất cả mọi môn trước khi được nhận lănh áo ḍng, và huấn luyện họ
tốt hơn không như t́nh trạng hiện nay,và như thế khi được đến làm việc giữa
những người đồng hương, họ sẽ làm việc tông đồ hữu hiệu hơn cho lợi ích của
Giáo hội và các linh hồn.
Xin Sư Huynh tŕnh bày với Ban Cố Vấn Nhà Ḍng những điều ghi trên, để Ban
Cố Vấn nghiên cứu, và sau đó gởi báo cho Thánh Bộ Tu Sĩ về những quyết định
mà Ban Cố Vấn cho là cần thiết hoặc thích hợp.
...

Sư Huynh Alession, tổng quản ḍng Anh Em Trường Ki-tô hồi âm ngày 30 tháng 5 năm 1928, với ước vọng lưu tâm "... không muốn tạo cớ cho các Sư Huynh bản xứ tự cảm thấy vướn mắt trong t́nh trạng thấp kém hơn so với các đồng môn Âu Châu..."
Thánh Bộ Tu Sĩ đáp trả ngày 28 tháng 6 năm 1928 xác định rơ ràng
"... đó
là điều hoàn toàn phù hợp với hướng dẫn của Ṭa Thánh..."
và c̣n nhấn
mạnh
"... Về vấn đề này, tôi xin thông đạt đến Sư Huynh vài ghi nhận của
Khâm Sai Ṭa Thánh tại Đông Dương, hầu ban lănh đạo lưu tâm nghiên cứu và áp
dụng rộng lớn vào nhiều lănh vực có thể.
... Hoặc các Sư Huynh Annamites không được giao phó trách nhiệm điều hành
những ngôi nhà nhỏ, kể cả nhiều văn pḥng khác nhau chỉ dành riêng cho người
Âu; họ chỉ được chấp nhận vào trong Ḍng với mục đích có người trợ giúp...
... Sự ḥa hợp giữa các Sư Huynh Âu châu và Annamites thật đáng khen ngợi;
tuy nhiên cần phải lưu ư rằng sự huấn luyện các Sư Huynh bản xứ hoàn toàn
theo phương thức lối sống tây phương, nghĩa là nhà Ḍng không thích nghi với
môi trường sinh sống Annamite, trái lại nhà Ḍng t́m cách buộc người
Annamite thích nghi với kiểu sống của người Âu. Như vậy, ăn uống, kinh
nguyện, đọc sách... đều theo lối sống và bằng tiếng Pháp. Các Sư Huynh người
Pháp không tỏ ra vồn vă và không tự buộc ḿnh học tiếng bản xứ; và kể cả các
Sư Huynh bản xứ cũng bị buộc hầu như chỉ được nói tiếng Pháp mà không được
học ngôn ngữ của quốc gia họ như họ phải được học. V́ thế, tốt hơn hết là các Sư Huynh Âu Châu học tiếng bản xứ..."


Theo báo cáo của Huynh giám tỉnh Divy Joseph (1926-1933) đáp
trả những yêu cầu của Thánh Bộ Tu Sĩ gởi về Nhà Mẹ, Hồ sơ D1f2 #7 ghi
lại:
" Sư Huynh giám tỉnh nh́n nhận có những sai sót trong việc chiêu mộ ơn
gọi, và đă dùng mọi phương cách để hoàn chỉnh, trong những giáo đoàn Ki-tô
được tuyển chọn hay bị lơ là cho đến nay.
Các "tiểu đệ tử" (tuổi từ 10 đến 11) sẽ được đưa vào các trường học trong
ṿng một hay hai năm. Tại đó sẽ là cuộc tuyển chọn thứ nhất.
Sau đó các em sẽ được đưa vào "đệ tử viện thực thụ". Tại đó, ḷng sùng đạo
và học hỏi về động thái tính t́nh sẽ được nhấn mạnh hơn. Từ đó sẽ là cuộc
tuyển chọn thứ hai.
Tiếp theo các em khoảng 14 tuổi được đưa vào "Sơ Tập Viện" trong ṿng 3 năm,
để vào "Tập Viện" tṛn 17 tuổi, ngoại trừ vài trường hợp ít ỏi được Tôn
Huynh tổng quyển phê chuẩn.
(Huynh giám tỉnh không đá động ǵ đến "Thỉnh Viện". Tuy nhiên Ủy Ban Ơn Gọi
sẵn ḷng hiểu rằng ít nhất 6 tháng trong thời gian ở Sơ Tập Viện, và nhiều
tháng hơn cho những người tu muộn vào thẳng Nhà Tập)
Kinh Viện vẫn duy tŕ nbhư trước, nghĩa là 2 năm.
..."
Vài h́nh ảnh ghi lại sinh hoạt của các "Đoàn" Đệ tử, Tập sinh và Kinh sinh trong giai đọan 1890-1954
![]() Cây No-en 1900 |
![]() Các "chú" Đệ Tử tại Huế năm 1910 |
![]() Rước Lễ lần đầu (con của cụ Ngô Đ́nh Khả) |
![]() Đoàn Tập sinh tại Huế năm 1930 |
![]() Một nhóm Sơ Tập sinh tại Nha Trang năm 1937 |
![]() Nhóm Tập sinh năm 1947 |
![]() Một nhóm Kinh sinh và các Sư Huynh "tĩnh tâm 20 ngày" tại Saigon năm 1934 |
![]() Một nhóm Kinh sinh và các Sư Huynh "tĩnh tâm 25 ngày" tại Huế năm 1938 |
![]() Cộng Đoàn các Sư Huynh tại Puginier năm 1936 |
![]() Cộng Đoàn các Sư Huynh tại Mỹ Tho năm 1933 |
![]() Một Đoàn Tập sinh tại Pellerin năm 1927 |
![]() Đoàn Sơ Tập sinh tại Pellerin năm 1924 |
***
F. Những trường học và cơ sở được thành lập từ 1890-1954
| Tên trường | Địa phương | Ngày thành lập | Năm đóng cửa | Huynh trưởng tiên khởi |
| Trường Taberd Trường Puginier Collège de la Mission Nhà Tập Saint Joseph Trường Sain Jean-Baptiste Trường nội trú Saint Louis Trường câm-điếc Saint Michel Trường Pellerin (B́nh Linh) (*) Trường Người câm-điếc Trường Battambang Nhà tập Trường Saint Joseph Trường Saint Joseph Villa Saint Louis Trường Miche (**) Trường Saint Pierre Trường St. Fr-Xavier (Khánh Hưng) Petit-Noviciat Trường Gagelin Trường St. Louis de Gonzague (Đức Minh) Trường St. Thomas d'Aquin Ecole de la Mission Đồi La San Trường Sainte Famille Trường Mossard Trường Notre Dame Trường Sacré Coeur (Adran) Trường Cù Lao Vĩnh Phước Trường Nghĩa Thục Trường Chotiravi Paknampho (***) Trường Bá Ninh |
Saigon Hà Nội Hà Nội Thủ Đức Thủ Đức Cap Saint Jacques Tân Định Huế Gia Định Siam/Cambodge Huế Hải Pḥng Mỹ Tho Vũng Tàu Pnompenh Pnompenh Sóc Trăng Huế B́nh Định Tân Định Nam Định Phát Diệm Nha Trang Bùi Chu Thủ Đức Nam Định Đà Lạt Nha Trang Hải Pḥng Thailande Nha Trang |
01-01-1890 01-04-1895 15-03-1895 17-12-1895 01-08-1898 06-03-1899 01-01-1902 15-05-1904 01-07-1904 13-08-1906 05-01-1906 15-11-1906 01-04-1908 01-05-1910 01-03-1911 01-04-1911 21-02-1913 01-11-1915 03-10-1921 07-09-1923 13-01-1924 28-08-1932 22-03-1933 01-09-1939 15-10-1939 31-08-1941 01-10-1941 07-09-1952 17-09-1952 17-05-1953 01-09-1954 |
1975 1954 1954 1905 1907 1904 1904 1975 1908 1910 1933 1954 1975 1943 1970 1970 1975 1933 1946 1975 1941 1947 1975 1949 1975 1945 1975 1975 1954
1975 |
Frère Ivach-Louis Frère Basilisse-Marie Frère Oreste-Martin Frère Basilisse-Marie Frère Aglibert-Marie Frère Térentien-Léon Frère Salomé-Victor Frère Aglibert-Marie Frère Salomé-Victor Frère Dominique-Joseph Frère Idinael-Emile Frère Arnould-Robert Frère Crescence-Marie
Frère Christophe_léon Frère Colomban-Vital Frère Duvian-Albert Frère Ivach-Louis Frère Dunstan-Albert Frère Ildéphonse Lộc Frère Donatien-Régis Frère Téclan-Marcel
Frère Hoan-Marie Lê Thương Toàn Frère Divy-Joseph Frère Dominique-Joseph Frère Dosas-Emilien Frère Harman Minh Hoàng Anh Tuấn Frère Thomas-Hyacinthe Lương Bá Thông Frère Ariald-Prosper Frère Henry Hoà Nguyễn Ngọc Trân |
(*) Hồ sơ NJ 450 D8f2 11/14
"Giám mục địa phận Biblos Pellerin Francois-Marie, tên thật
là Henri Agathon.
... Năm 1856, trong khi vua Tự Đức hăm he thương lượng để chuẫn bị tốt hơn chống
đánh quân đội Pháp, th́ giám mục Pellerin bị đẩy vào thế nguy đến tính mạng,
liền ngụy trang thành người lính và thủy thủ, lập tức báo cho đô đốc chiến
thuyền Capricieuse đang neo trước phố Tourane [Đà Nẳng].
... T́nh thế tại Đông Dương ngày càng trầm trọng, giám mục lên thuyền trở về
Pháp.
... Năm 1858, giám mục tŕnh tấu với hoàng đế Napoléon III, lúc bấy giờ đang có
mặt tại Biarritz, t́nh huống tồi tệ của hội thừa sai tại An Nam, và khẩn xin
hoàng đế Napoléon III hành động thích ứng để bảo đảm sự tự do tôn giáo. Vị hoàng
đế hứa sẽ hành động hữu hiệu, và đó là nguyên nhân khởi động việc tiến chiếm
Đông Dương.
... Một con đường tại Saigon và ngôi trường tại Huế mang tên giám mục này."
(**)
"Giám mục địa phận Danasara Miche, tên thật là Jean Claude.
... Năm 1842, giám mục Miche bị bắt giữ cùng một lượt với linh mục Duclos, bị
giam tù và tra tấn, và được trả tự do năm 1843 nhờ đại tá Favin. Giám mục Miche
đă vào Đông Dương năm 1844.
... Năm 1850, giám mục được thăng làm khâm sứ ṭa thánh tại Cambodge.
... Năm 1856, giám mục giúp cho ông De Montingy thành công hoàn thành sứ mạng
tại Siam [Thái Lan] do chính phú Pháp trao phó, và sau đó giám mục cũng đă đem
lại nhiều công sức quí giá cho đô đốc De la Grandière trong việc soạn thảo nghị
ước đem lại quyền bảo hộ của Pháp trên Cambodge vào năm 1862.
... Giám mục qua đời năm 1878 tại Saigon và được an táng nơi 'Mộ của Adran'..."
(***)
Huynh Phụ quyền Zacharias ghi (Hồi kư trang 153-154):
"... Đáp trả lời yêu cầu của Thánh Bộ Truyền Giáo: 5 Sư Huynh được tách
ra khỏi Đông Dương đến Thái Lan. Phần đa số dân Thái là Phật giáo (15 triệu),
thiểu số là Hồi giáo, chỉ khoảng 30 ngàn người công giáo.
...
Sư Huynh Ariald Joseph đến mở trường đầu tiên tại Paknampho. Các Sư Huynh Saint
Gabriel đến Thái Lan từ nhiều năm trước nhưng từ chối mở trường tại Paknampho v́
thiếu nhân sự.
Trường Paknampho chính thức khai giảng ngày 18 tháng 5 năm 1953.
...
Ngày 04-06-1954, Thủ tướng Thái đến viếng thăm Paknampho, triệu tập tất cả các
trường trong vùng đến tiếp kiến. Khi Thủ tướng bắt gặp giữa đám đông các Sư
Huynh La San, ông tiến đến gần, bắt tay từng Sư Huynh và chuyện tṛ với họ bằng
tiếng Thái sau đó bằng tiếng Pháp.
Thủ tướng trao tặng 50,000 ticaux (tiền Thái) cho tất cả các trường. Tôi
không thể minh định số tiền trao cho trường Rongine Tchotiravi = Trường Mặt
Trời Chiếu Sáng là bao nhiêu. [Người bản sứ đề nghị đổi tên trường Paknampho
của chúng ta thành "Trường Mặt Trời Chiếu Sáng"]
Ngày chính thức khai giảng, 240 trẻ em đến trường, tụ tập quanh cột cờ và hát
quốc ca Thái. Phụ huynh phần th́ ṭ ṃ phần th́ dửng dưng đứng nh́n từ cửa nhà
hoặc cửa sổ, một số vào ngay trong các pḥng lớp... để xem những "pharangs =
người Pháp" trong bộ y phục màu trắng (áo ḍng)!
...
Trường "Mặt Trời Chiếu Sáng" phát triển nhanh chóng, thật thành công: Sĩ số học
sinh
- Năm 1955: 550
- Năm 1956: 770
- Năm 1957: 900
...
Các Sư Huynh "Pharangs" đáng hănh diện và được sự khen ngợi của tỉnh ḍng, của
nhà Ḍng, và lẽ tất nhiên của dân chúng Thái tại Paknampho."
Hồ sơ 17450 - D8 f2 (#8 và #9)
Vài con số về các Sư Huynh, Thầy/Cô, Người
Giúp Việc, Học Sinh nội/ngọai
trú tại các trường từ năm 1931 đến 1935
| Trường | 1931 | 1932 | 1933 | 1934 | 1935 |
| Pnom-Penh * Sư Huynh * Thầy/Cô * Giúp việc * Học sinh |
7 5 6 415 |
7 5 4 446 |
7 4 4 321 |
7 4 2 276 |
7 8 2 303 |
| Saigon * Sư Huynh * Thầy/Cô * Giúp việc * Nội Trú * Bán trú * Học sinh |
37 17 54 440 115 1204 |
37 15 54 425 109 1177 |
36 10 42 305 50 1026 |
36 11 42 176 60 851 |
34 10 42 172 52 857 |
| Sóc Trăng * Sư Huynh * Thầy/Cô * Giúp việc * Nội Trú * Bán trú * Học sinh |
10 3 14 165 299 |
9 4 14 123 265 |
8 2 14 84 5 235 |
8 10 60 211 |
10 10 58 1 211 |
| Qui Nhơn * Sư Huynh * Thầy/Cô * Giúp việc * Nội Trú * Bán trú * Học sinh * Đệ tử |
4 4 10 54 2 246 9 |
4 2 10 56 4 205 |
4 3 7 52 4 180 |
4 3 7 57 200 |
|
| Phát Diệm * Sư Huynh * Thầy/Cô * Giúp việc * Học sinh |
3 9 1 470 |
3 10 1 514 |
3 9 1 580 |
3 6 1 380 |
|
| Hải Pḥng * Sư Huynh * Thầy/Cô * Giúp việc * Nội Trú * Bán trú * Học sinh |
7 1 10 16 2 159 |
6 1 8 18 2 156 |
6 1 6 8 1 149 |
7 3 6 10 145 |
7 3 5 7 3 165 |
| Hà Nội * Sư Huynh * Thầy/Cô * Giúp việc * Nội Trú * Bán trú * Học sinh |
22 5 16 84 12 720 |
22 5 18 65 8 585 |
20 1 18 60 12 559 |
24 5 65 15 540 |
26 2 15 57 12 604 |
| Huế * Sư Huynh * Thầy/Cô * Giúp việc * Nội Trú * Bán trú * Học sinh * Đệ tử |
18 8 32 214 18 438 |
18 6 10 162 9 341 |
18 3 40 92 10 355 |
17 3 28 73 10 272 |
17 2 28 79 14 261 16 |
| Nam Định * Sư Huynh * Thầy/Cô * Giúp việc * Nội Trú * Bán trú * Học sinh |
11 1 10 160 215 |
14 1 10 105 207 |
14 1 11 75 189 |
13 1 10 45 1 184 |
13 1 10 34 229 |
![]() Đồi La San 1939 |
![]() Đồi La San 19954 |
![]() Trường Gagelin |
![]() Trường Mỹ Tho |
![]() Trường Phát Diệm |
![]() Trường Puginier |
![]() Trường Pellerin |
![]() Trường Sóc Trăng |
|
|
|
![]() Trường Hải Pḥng |
![]() Trường St. Louis de Gonzague Đức Minh |
![]() Trường Miche |
![]() Trường Cù Lao Nha Trang |
![]() Trường Bá Ninh |
![]() Trường Battambang |
![]() Trường nội trú (1899-1904) trở thành Villa Saint Louis (1910) - Vũng Tàu |
![]() Trường Thomas d'Aquin, Nam Định |
***
G. Từ giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, toàn thế giới trải qua những cơn giao động không ngừng v́ chiến tranh từ nội chiến do phong trào thực dân "cá lớn nuốt cá bé" tạo thành những bất măn, xáo trộn, xung đột, và đưa đến 2 cuộc chiến tranh thế giới I và II. Việt Nam bị coi như "mọi rợ" và nhược tiểu lúc bấy giờ, chẳng những không thể đứng ngoài quỹ đạo của những cuộc chiến tàn nhẫn đó, mà vẫn c̣n bị lôi cuốn trong vùng nước xoáy của chiến tranh ư thức hệ như một loại "thực dân kiểu mới" sau khi thế chiến thứ II đă coi như chấm dứt... Cuộc chiến nào dù lớn dù bé, dù du kích hay qui mô, cũng làm xáo trộn không ít nếp sống "b́nh thường" của một xă hội.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh, lănh tụ đảng cộng sản Việt Nam, đọc
bản "Tuyên Ngôn Độc Lập" tại quảng trường Ba Đ́nh, Hà Nội.
Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa ra đời
tại miền Bắc Việt Nam.
Một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Việt Nam.
Huynh Phụ quyền Zacharias ghi (hồi kư trang 129):
"... Ngày 12-02-1945, 17 Huynh La San bị lính Nhật giết tại Manilla, thủ
đô Phi-Luật-Tân...
... Cho đến tháng 5 năm 1945, các trường sở hoạt động 'b́nh thường'. Bỗng
chốc bắt bớ, lùng xét không ngừng. Tại Huế: 2 Sư Huynh bị giết. Tại Nha
Trang: Huynh giám tỉnh và 4 Sư Huynh khác bị bắt và dẫn độ cùng khắp từ thôn
này qua làng khác. Tàu chiến Richelieu và Triomphant đến, và đă giải cứu..."
Huynh Phụ quyền Zacharias ghi (hồi kư trang 149):
"... Sư Huynh Thomas More đến Việt Nam năm 1938 và Sư Hunh Celsus
Edwin cũng đến Việt Nam một thời gian sau đó. Cả hai là người nước Anh.
Quân đội Nhật bắt nhốt tù một số các Sư Huynh.
Sư Huynh Celsus bị dẫn đô đến trại tù ở Mỹ Tho và bị giam gữ tại đó cho đến
ngày quân đội Nhật đầu hàng.
Sư Huynh Thomas cùng các bạn đă bị quân đội Nhất bắn giết ngày 01-07-1945.
Bản báo cáo số 2:
"Một cái nh́n tổng quát về t́nh h́nh chính trị tại Bắc Kỳ.
Thật khó mà có ư kiến về việc này v́ những tin tức nhận được đối chọi nhau.
Từ ngày 9 tháng 3 năm 1945, một sự phát động tuyên truyền thật sôi nỗi chống
lại người Pháp rất rơ nét, nêu vấn đề 'độc lập' như là một nhật lệnh, và chỉ
có một nhật lệnh duy nhất, ngoài ra không c̣n ǵ quan trọng hơn nữa. Hậu quả
là một sự rối ren chưa từng xảy ra, trong mọi lănh vực.
... Sự phát động tuyên truyền này làm sai lạc méo mó lương tâm và suy tưởng,
làm mù ḷa đen tối lương tri và đă gây nên mối nghi ngờ, thù hận và bạo động.
... Hàng gíáo phẩm bản xứ xem ra như bị tổn thương nặng nề hơn hết bởi sự
phát động tuyên truyền này... Không c̣n ư nghĩa của đức vâng phục và kính
trọng hàng giáo phẩm cấp trên... Đối với khá nhiều người, chính trị đă chiếm
phần thượng phong và làm quên lăng Tin Mừng...
Các trường học của chúng ta vốn sinh họat rất phát triển
cho đến biến cố tháng 3 năm 1945, nay bị xem như đang mơ ngủ (Hà Nội), lưng
chừng (Phát Diệm, Trung Linh, Hải Pḥng) hoặc phải đóng cửa (Nam Định).
Việc bảo toàn một trường học tại thủ đô Việt Nam (trường Pugnier Hà Nội) xem
ra cần thiết. Thành phần giáo viên và học sinh sẽ phải chỉ là người Việt..."
Huynh giám đốc Nhà Tập tại Nha Trang ghi:
"... Việt Minh đóng chiếm Đồi La San... Các Sư Huynh lớn tuổi, Tập sinh,
Sơ Tập sinh, v.v... phải giải tán. Người 'về quê', kẻ t́m nơi trú ẩn... Một
số khác đi theo từng nhóm nhỏ 'di tản' ra Huế, Lương Sơn...
... Khi đội quân rút ra khỏi Đồi, tôi không thể ngăn hai hàng lệ tuôn trào.
Một cơn băo dù có xoáy quanh pḥng này đến pḥng khác cũng không tàn phá
thảm hại bằng Việt Minh đă phá phách..."
Một biến cố không thể quên: Nạn Đói năm 1945
Hơn 2 triệu người đă chết v́ đói... Cả nhà đói, cả ḍng họ đói, cả làng cả xóm cùng đói. Cái đói kinh hoàng năm Ất Dậu 1945 ấy, người trẻ hôm nay sẽ không tưởng tượng nổi.
Lũ lượt những đoàn người như h́nh nhân bỏ quê hương t́m lên phố xá, mong kiếm thứ bỏ vào mồm. Và cuộc hành tŕnh ấy kéo dài từ xó nhà đến Hà Nội đă biến con người thành hồn ma xác quỉ. Hoặc là gục chết bên đường hoặc ngoai ngoác sống trong khổ nhục...
|
|
|
Hồ sơ 0701/1801: Huynh giám tỉnh Domicé viết từ Saigon, ngày
29-12-1946
"... Những biến cố thật trầm trọng xảy ra ở Tonkin và Annam từ ngày 19 tháng
12. Những biến cố xảy ra vào tháng 9 năm 1945, so với những biến cố này, chỉ
như là khơi mào nhè nhẹ...
... Những tên đồ tể của tháng 9 năm 1945 đă ra tay và thực hiện cách hoàn
hảo đúng theo phương thức của chúng; những vụ giết người quả thật siêu việt,
và để lập lại sự lên án của Lănh sự Mỹ quốc: những hành động đó, thật sự là
'dă man súc vật'...
... Vẫn chưa có tin tức ǵ về những Anh Em chúng ta tại Tonkin và Annam...
Với sự bắt bớ bách hại đẫm máu ngày càng tăng như vậy, chưa có điều ǵ mất
mát tại các cộng đoàn ở Saigon th́ thật là phép lạ..."
Hồ sơ 2409 #6:
"Hội Đồng Cố Vấn Trung Ương chấp thuận ngày
16-12-1946 'tạm thời' đóng cửa vài trường ở Tonkin và Annam
- Xét rằng hoàn cảnh chính trị rất bất lợi cho người Pháp và ngay cả cho
người Annam và Đông Dương,
- Xét rằng sự khốn khổ mà vài cộng đoàn bị bắt buộc phải sinh sống,
- Xét rằng sự ít lưu tâm để ư của vài nhân vật giáo quyền,
- Xét rằng các Sư Huynh không thể điều khiển các lớp học theo phương pháp
của ḿnh,
Huynh Phụ quyền sau khi tham khảo ư kiến khôn ngoan và được sự chấp thuận
của giáo quyền liên hệ, đă quyết định đóng tất cả các cơ sở ở Tonkin;
Ba (3) Sư Huynh sẽ túc trực ở Hà Nội để kiểm soát các cơ sở tại Hải Pḥng,
và ǵn giữ tài sản tại Hà Nội.
...
Những cộng đoàn phải (tạm thời) đóng cửa: Hà Nội, Hải Pḥng, Phát Diệm, Bùi Chu, Nam Định.
Tại Annam: đóng cửa Qui Nhơn"
Hồ sơ 2409 #13: Huynh phụ tá giám tỉnh Cyprien viết từ Saigon,
ngày 3 tháng 6 năm 1947
"... Binh lính Pháp lên tầng trên của trường Pellerin, bắn vào căn cứ của
Việt Minh phía bên kia bờ sông. Đó là nguyên nhân khởi động cuộc tấn công
trả đũa...
... Việt Minh tố cáo các Sư Huynh đă chứa chấp lính Pháp để họ bị bắn phá..."

Trường Pellerin, năm 1947
Huynh Phụ quyền Zacharias ghi (hồi kư trang 149):
"... Sau chính biến 1945, tất cả cơ sở giáo dục của chúng ta phải
đóng cửa.
Chúng tôi đă nổ lực xúc tiến và khuyến khích hoạt động trở lại càng sớm càng
tốt.
Cuối cùng cũng thành công:
- Trường Taberd mở cửa lại năm 1946;
- Trường Pellerin Huế và trường Puginier Hà Nội: năm 1948;
- Các trường tại Nha Trang, Sóc Trăng, Mỹ Tho: năm 1949.
... Sĩ số học sinh ghi danh đến học tăng rất nhanh..."
Hồ sơ 0707 #14,
Huynh giám tỉnh Cyprien viết từ Saigon, ngày 28
tháng 6 năm 1952
"... Một thử thách mới giáng xuống trên cơ sở Taberd và gây nguy hại đến
công việc của chúng ta. Ngày hôm qua, 27 tháng 6, một thông báo chính thức
về quyết định của chính quyền Việt Nam trưng dụng trường Taberd làm căn cứ
quân sự.
... Trong thành phố này, có nhiều trường công cũng như tư, h́nh như không
một cơ sở nào được trưng dụng..."

Hồ sơ 1807 #15. Saigon, ngày 14-07-1952.
Vụ trưng dụng cơ sở Taberd làm căn cứ quân sự chưa giải quyết xong, Huynh
giám tỉnh Cyprien phải đương đầu việc "các Sư Huynh trẻ phải thi hành nghĩa
vụ quân sự : 2 Sư Huynh thuộc cộng đoàn Taberd và 12 Sư Huynh Kinh sinh."
Hồ sơ 0304 #11. Saigon, ngày 30-03-1953.
Huynh giám tỉnh Cyprien vui mừng báo cáo "các Sư Huynh được chấp thuận đi
nghĩa vụ quân sự trong 6 tháng, nhờ hồng ân của Ông Lê Quang Huy, một sự học
sinh Taberd - từ đời cha đến đời con..."
...
"Sáng hôm nay, Huynh giám tỉnh đă bệ kiến vua Bảo Đại trong dịp nhà vua ghé
qua vùng Saigon...
Sau khi đọc thư giới thiệu và ước vọng của giám mục Seitz, nhà vua đề nghị
mong muốn mở một trường học cho người Thượng tại Ban Mê Thuột... Nhà vua sẽ
đưa tất cả các Sư Huynh đang thi hành nghĩa vụ quân sự đến điều khiển và
giảng dạy tại ngôi trường này..."
Tuy nhiên, vua Bảo Đại "hứa một đàng" mà người nắm quyền trực
tiếp việc động viên th́ "làm một nẻo". Mặc dầu vấn đề không quá khó khăn để
giải quyết, nhưng cũng phải theo hệ thống quân giai, như trong bản báo cáo
của Huynh trưởng Emile cho Huynh Phụ Quyền:
"Ngày 24 tháng 2 năm 1954, Huynh trưởng cộng đoàn Đà Lạt, Sư Huynh
Emilien, được Huynh phụ Quyền và Huynh giám tỉnh ủy thác việc đến gặp Ông
Tổng Bí Thư Nguyễn Đệ.
Ông tỏ vẽ ngạc nhiên và không bằng ḷng v́ không gặp Huynh phụ Quyền và
Huynh giám tỉnh,
...
Ông c̣n ngạc nhiên hơn nữa v́ Huynh giám tỉnh đă gặp vua Bảo Đại qua trung
gian của ông Didelot,
...
Ông cũng không kém ngạc nhiên khi nghe biết các Sư Huynh ṭng quân lại đến
Kontum chứ không phải Ban Mê Thuột...
Cuối cùng Ông Nguyễn Đệ yêu cầu:
1. Chính thức bàn thảo vấn đề này với Thủ Tướng Bửu Lộc, và thông tin cho
Thủ Tướng biết rơ rằng vua Bảo Đại đă hoàn toàn chấp thuận,
2. Lập một danh sách đầy đủ tên họ của các Sư Huynh phải ṭng quân và giao
tận tay Thủ Tướng Bửu Lộc,
3. Phải nghĩ đến việc đi Ban Mê Thuột, nhất là những Sư Huynh phải đi quân
dịch và được điều về vùng Cao Nguyên,
4. Các Sư Huynh phải sống trong cộng đoàn và mặc áo ḍng với một điều kiện
là tŕnh diện với Ban Quân Sự mỗi tuần hay hai tuần một lần.
... "

***
G. Hồ sơ 0304 #12.
Saigon, ngày 4 tháng 7 năm 1953.
Giám mục Cassaigne, Khâm Sứ Ṭa Thánh tại Saigon gởi thư đến Huynh
Cyprien, giám tỉnh các Anh Em Trường Ki-tô Đông Dương tại Saigon.
Sư Huynh giám tỉnh thân kính,
Các Xứ Truyền Giáo tại miền Nam Việt nhận lời yêu cầu của Ṭa Thánh và Hội
Truyền Giáo Paris, buộc phải xây dựng một Đại Chủng Viện Vùng, nhằm đào tạo
các linh mục tương lai cho các giáo phận Phnom-penh, Vĩnh Long, Qui Nhơn,
Saigon và Kontum. D09ể có phương tiện tài chánh cho việc xây dựng, các Khâm
Sứ Ṭa Thánh đă hội họp tại Saigon ngày 2 tháng 7 năm 1953 và quyết định
rằng chỉ c̣n một cách duy nhất để hội đủ điều kiện tài chánh cho việc xây
dựng là phải bán bớt vài tài sản thuộc quyền của giáo phận.
...
Trong chuyến viếng thăm Đông Dương năm 1951, Sư Huynh Zacharias đă hỏi tôi
rằng Xứ Truyền Giáo Saigon có thể bán cơ sở trường Taberd cho các Sư Hjuynh
Trường Ki-tô không?
Vào năm 1952 (?) trong cuộc viếng thăm lần thứ hai, cũng chính Sjư Huynh
Zacharias yêu cầu tôi chuyển tặng cơ sở Taberd. Tôi đă trả lời rằng chuyển
nhượng với giá cả phải chăng th́ có thể, chứ chuyển tặng ḥan ṭan th́ không
thể được, v́ Xứ Truyền Giáo Saigon đă phải gánh chịu quá nhiều mất mát: 60
nhà thờ bị phá nát, khoảng 30 giáo xứ tan hoang, v.v... Những sự tàn phá mà
Cơ Quan Đền Bù Chiến Tranh đă chối từ bàn bạc. Thêm vào đó, tôi tưởng nên
nhắc lại rằng kể từ khi cơ sở Taberd được giao cho các Sư Huynh hoàn toàn
điều khiển, Xứ Truyền Giáo Saigon vẫn tiếp tục trả thuế và bảo hiểm.
Phần khác, tôi cũng biết rằng Ṭa Thánh có thể đă yêu cầu các Ḍng Tu làm
chủ những cơ sở trong đó các công việc tông đồ của Ḍng Tu đă được thiết lập,
mà chưa thuộc quyền sở hữu của Ḍng Tu.
Sau khi hội ư và đồng t́nh với giám mục Ngô Đ́nh Thục, Phụ tá Khâm Sai Ṭa
Thánh tại Vĩnh Long và đồng chủ với tôi, và xét đến những công việc phục vụ
của Taberd đối với cả hai Xứ Truyền Giáo, chúng tôi quyết định chuyển nhượng
cho Sư Huynh phân nửa trị giá của cơ sơ Taberd c̣n thuộc về chúng tôi, nghĩa
là: toàn bộ lănh thổ và gần hai phần ba nhà cửa.
Mặc dầu tôi chỉ có một khái niệm mù mờ về trị giá của cơ sở, nhưng tôi biết
giá trị đất đai cũng đă là 2,000 đồng mỗi mét vuông, và nhà cửa trên Đường
Espagne, đa do vị tiền nhiệm của tôi, giám mục Dumortier, mua với giá là
60,000 đồng. Tuy nhiên với thời giá bây giờ có thể thẩm định tới 3 triệu
đồng.
...
Tôi xin được phép tŕnh bày với Sư Huynh rằng trong sự chuyển nhượng này,
chúng tôi không hề có ư tưởng nào về việc "mua bán", nhưng chỉ đơn thuần là
cho phép chúng tôi có đủ phương tiện tài chánh để xây dựng tại Saigon một
Đại Chủng Viện cho Vùng..."

***
Sau cuộc chiến dài 9 năm - Trường Kỳ Kháng Chiến (1945-1954) - cuộc chiến
Điện Biên Phủ kết thúc kéo theo "Hiệp Định Geneva" chia đôi nước Việt thành
hai:
1- từ vĩ tuyến 17 trở ra, nước Dân Chủ Cộng Ḥa (cộng sản) c̣n gọi là Bắc
Việt do Hồ Chí Minh và đảng cộng sản cai trị;
2- từ vĩ tuyến 17 trở vào, nước Việt Nam Cộng Ḥa (tự do, dân chủ) c̣n gọi
là Nam Việt do tổng thống Ngô Đ́nh Diệm và nhân dân miền Nam làm chủ.
Một giai đoạn mới trong lịch sử Việt Nam nói chung, và lịch sử Tỉnh ḍng La San Saigon nói riêng, bắt đầu.